Blue ocean

Gửi câu hỏi trực tuyến

Họ tên
Điện thoại
Email
Câu hỏi

ĐẤT ĐANG TRANH CHẤP BỊ NHÀ NƯỚC THU HỒI: TIỀN BỒI THƯỜNG AI ĐƯỢC NHẬN?

22/09/2026 11:29

Đất đang có tranh chấp nhưng Nhà nước đã có quyết định thu hồi thì tiền bồi thường, hỗ trợ sẽ được xử lý như thế nào? Ai là người có quyền nhận tiền khi các bên đều cho rằng mình là người sử dụng đất hợp pháp? Bài viết phân tích quy định pháp luật về việc quản lý, chi trả tiền bồi thường khi đất đang tranh chấp, cách xác định người có quyền nhận bồi thường và hướng xử lý khi nhiều người cùng có quyền sử dụng đất. Đồng thời, bài viết cung cấp phương án luật sư hỗ trợ rà soát hồ sơ đất đai, hồ sơ thu hồi – bồi thường, giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

ĐẤT ĐANG TRANH CHẤP BỊ NHÀ NƯỚC THU HỒI: TIỀN BỒI THƯỜNG AI ĐƯỢC NHẬN?
Khi một thửa đất đang có tranh chấp nhưng đồng thời nằm trong diện Nhà nước thu hồi, vấn đề thường khiến các bên đặc biệt quan tâm là: Ai sẽ được nhận tiền bồi thường?
Một bên cho rằng mình là người sử dụng đất hợp pháp. Bên còn lại cũng đưa ra giấy tờ và cho rằng mình mới là người có quyền. Trong khi đó, cơ quan Nhà nước đã có quyết định thu hồi và phương án bồi thường.
Vậy tiền bồi thường có được trả ngay cho một bên hay phải chờ giải quyết tranh chấp? Nếu nhiều người cùng có quyền đối với thửa đất thì tiền được chia như thế nào?
Pháp luật đất đai hiện hành đã có quy định tương đối rõ về vấn đề này.
 
HOTLINE LUẬT SƯ TƯ VẤN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
ThS. Luật sư Nguyễn Văn Hải: 024.39.184.888 - 0973.509.636


1. Đất đang tranh chấp thì tiền bồi thường có được trả ngay không?
Về nguyên tắc, nếu đất thu hồi hoặc tài sản trên đất đang có tranh chấp và tranh chấp chưa được giải quyết xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ không được trả ngay cho một bên.
Khoản 4 Điều 94 Luật Đất đai 2024 quy định trường hợp đất thu hồi, tài sản đang có tranh chấp thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tiền gửi của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, theo lãi suất không kỳ hạn. Tiền lãi được trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản được bồi thường, hỗ trợ.
Nghị định 88/2024/NĐ-CP cũng quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 25: nếu đất thu hồi, tài sản đang có tranh chấp mà chưa giải quyết xong, khoản tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản nói trên; sau khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản.
Như vậy, việc Nhà nước thu hồi đất không có nghĩa là bên đang quản lý đất hoặc đang đứng tên trên giấy tờ sẽ đương nhiên được nhận tiền bồi thường ngay.
 


2. Vậy cuối cùng ai sẽ được nhận tiền bồi thường?
Điểm mấu chốt là: Ai được xác định có quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu tài sản được bồi thường thì người đó có quyền nhận khoản tiền tương ứng theo phương án và kết quả giải quyết có thẩm quyền. Do đó, trong trường hợp hai bên đang tranh chấp, câu hỏi quan trọng không phải là: “Ai đến nhận tiền trước?” mà phải là: “Ai có quyền hợp pháp đối với phần đất và tài sản bị Nhà nước thu hồi?”
Ví dụ: Ông A và ông B cùng tranh chấp quyền sử dụng 500m² đất. Trong thời gian tranh chấp, Nhà nước có quyết định thu hồi toàn bộ diện tích này để thực hiện dự án. Nếu tranh chấp chưa được giải quyết, khoản tiền bồi thường sẽ được xử lý theo quy định nêu trên thay vì mặc nhiên trả cho ông A hoặc ông B.
Sau khi tranh chấp được giải quyết bằng bản án, quyết định hoặc kết quả giải quyết có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền, căn cứ vào kết quả đó để xác định người có quyền nhận tiền. Nói cách khác, tiền bồi thường có thể được giữ lại trong thời gian tranh chấp, nhưng quyền đối với khoản tiền đó vẫn phải được xác định trên cơ sở quyền đối với đất và tài sản bị thu hồi.
 


3. Nếu cả hai bên đều có giấy tờ về thửa đất thì sao?
Đây mới là tình huống phức tạp. Ví dụ: Hộ gia đình A có Sổ đỏ;  Hộ gia đình B có giấy tờ mua bán, giấy giao đất hoặc tài liệu chứng minh nguồn gốc;  Cả hai cùng cho rằng mình có quyền đối với một phần diện tích;  Nhà nước lại đang thực hiện thu hồi đất.
Trong trường hợp này, không thể chỉ dựa vào việc bên nào đang cầm Sổ đỏ hoặc bên nào đang trực tiếp sử dụng đất để kết luận ngay ai được nhận toàn bộ tiền bồi thường.
Luật sư cần rà soát:
  • Nguồn gốc thửa đất;
  • Quá trình quản lý, sử dụng;
  • Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận;
  • Bản đồ, hồ sơ địa chính;
  • Các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế;
  • Diện tích thực tế;
  • Phần diện tích đang tranh chấp;
  • Quyết định thu hồi đất;
  • Phương án bồi thường đã được lập;
  • Các tài liệu mà mỗi bên sử dụng để chứng minh quyền của mình.
Từ đó mới có thể xác định đối tượng tranh chấp là gì và yêu cầu pháp lý cần đưa ra là gì.
 Hình ảnh minh họa

4. Nếu nhiều người cùng có quyền sử dụng đất thì tiền bồi thường được chia thế nào?
Trường hợp tranh chấp đã được giải quyết và xác định nhiều người cùng có quyền sử dụng đất hoặc cùng sở hữu tài sản, việc phân chia tiền bồi thường không mặc nhiên được giao toàn bộ cho một người.
Khoản 4 Điều 25 Nghị định 88/2024/NĐ-CP quy định việc phân chia tiền bồi thường, hỗ trợ cho những người có chung quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo thỏa thuận của những người có chung quyền theo quy định của pháp luật dân sự.
Ví dụ, ba anh em cùng được xác định có quyền đối với một thửa đất và thỏa thuận mỗi người được hưởng 1/3 quyền. Khi đất bị thu hồi, việc phân chia khoản bồi thường về đất tương ứng sẽ được thực hiện theo quyền của các bên và thỏa thuận hợp pháp. Nếu các bên không thống nhất được việc phân chia, có thể phát sinh tranh chấp và cần được giải quyết theo quy định pháp luật.
 


5. Tranh chấp đất đai và thu hồi đất diễn ra cùng lúc thì nên xử lý thế nào?
Trong thực tế, đây là điểm người dân rất dễ xử lý sai. Khi đất vừa tranh chấp vừa bị thu hồi, cần tiến hành hai nhóm công việc song song:
Thứ nhất: Bảo vệ quyền đối với thửa đất. Cần xác định rõ:
  • Ai là người có quyền sử dụng đất;
  • Diện tích tranh chấp là bao nhiêu;
  • Nguồn gốc đất;
  • Chứng cứ của mỗi bên;
  • Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Theo Luật Đất đai 2024, trường hợp tranh chấp mà một bên hoặc các bên có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trường hợp các bên không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ theo quy định thì pháp luật có cơ chế lựa chọn giữa Tòa án và cơ quan hành chính có thẩm quyền theo điều kiện luật định.
Thứ hai: Bảo vệ quyền đối với khoản tiền bồi thường. Song song với việc giải quyết tranh chấp, cần kiểm tra:
  • Quyết định thu hồi đất;
  • Thông báo thu hồi đất;
  • Biên bản kiểm đếm;
  • Dự thảo hoặc phương án bồi thường;
  • Diện tích được xác định để bồi thường;
  • Người đang được xác định là đối tượng nhận bồi thường;
  • Khoản tiền đã được chi trả hay đang được gửi giữ.
Nếu tranh chấp chưa được giải quyết, cần theo dõi việc xử lý khoản tiền theo đúng quy định của Điều 94 Luật Đất đai 2024 và Điều 25 Nghị định 88/2024/NĐ-CP.
 


6. Người dân cần chuẩn bị những giấy tờ gì?
Để bảo vệ quyền lợi trong trường hợp này, nên tập hợp càng sớm càng tốt các tài liệu liên quan đến cả tranh chấp đất và hồ sơ bồi thường.
Hồ sơ về quyền sử dụng đất:
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
  • Giấy tờ mua bán, chuyển nhượng;
  • Giấy tờ tặng cho, thừa kế;
  • Giấy giao đất, giấy thanh lý, hóa giá;
  • Hồ sơ kê khai đăng ký đất đai;
  • Hồ sơ địa chính;
  • Bản đồ, trích đo thửa đất;
  • Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính;
  • Các tài liệu chứng minh quá trình quản lý, sử dụng đất.
Hồ sơ về thu hồi, bồi thường:
  • Thông báo thu hồi đất;
  • Quyết định thu hồi đất;
  • Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
  • Biên bản kiểm đếm;
  • Thông báo chi trả tiền;
  • Các văn bản trao đổi với cơ quan thực hiện bồi thường.
Việc thu thập đầy đủ hồ sơ ngay từ đầu sẽ giúp xác định chính xác tranh chấp nằm ở quyền sử dụng đất, diện tích đất hay chính khoản tiền bồi thường.
 


7. Kết luận: Đất tranh chấp bị thu hồi không có nghĩa là tiền bồi thường “mất
Khi Nhà nước thu hồi một thửa đất đang có tranh chấp, điều quan trọng không phải là bên nào nhanh hơn trong việc đi nhận tiền, mà là xác định chính xác ai có quyền đối với đất và tài sản bị thu hồi.
Nếu tranh chấp chưa được giải quyết, tiền bồi thường, hỗ trợ được xử lý theo cơ chế gửi giữ theo quy định pháp luật. Sau khi tranh chấp được giải quyết, khoản tiền sẽ được trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản theo kết quả giải quyết.
Vì vậy, khi phát sinh tình huống “đất đang tranh chấp nhưng Nhà nước đã có quyết định thu hồi”, người dân cần đồng thời bảo vệ quyền đối với thửa đất và quyền đối với khoản tiền bồi thường, thay vì chỉ tập trung vào một trong hai vấn đề.

HOTLINE LUẬT SƯ TƯ VẤN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
ThS. Luật sư Nguyễn Văn Hải: 024.39.184.888 - 0973.509.636

Tư vấn – Hòa giải – Giải quyết tranh chấp đất đai – Thu hồi, bồi thường, hỗ trợ – Khiếu nại, khởi kiện và tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Gửi yêu cầu dịch vụ
Đăng ký dịch vụ ngay