Blue ocean

Gửi câu hỏi trực tuyến

Họ tên
Điện thoại
Email
Câu hỏi

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

14/08/2019 15:15

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ quan hệ hợp đồng; người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp  của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Luật Dân sự 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng tại chương XX từ điều 584 đến điều 608, có nhiều sự thay đổi so với các quy định trong BLDS 2005. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích điểm mới cơ bản của BLDS 2015 ở mục “Những Quy định chung” trong Chương XX “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng”.

      1. Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cở sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH có phát sinh trên thực tế hay không. Về vấn đề này, BLDS 2015 có những điểm khác biệt cơ bản:
      - Thứ nhất, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH đầu tiên là hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại. Theo đó, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Nếu trước đây, người bị thiệt hại cần chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại thì theo quy định mới họ chỉ cần xác định được hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại là đã có thể yêu cầu bồi thường. Trách nhiệm chứng minh lỗi giờ đây sẽ thuộc về người gây thiệt hại trong trường hợp muốn được miễn trách nhiệm BTTH (Khoản 2 Điều 585 BLDS 2015) hoặc được giảm mức bồi thường (Khoản 2, 4 Điều 586 BLDS 2015).
      - Thứ hai, khi xác định chủ thể được BTTH, BLDS 2015 đã quy định theo hướng khái quát hơn, không còn chia ra trường hợp cá nhân và pháp nhân hoặc chủ thể khác như BLDS 2005 nữa.
     - Thứ ba, BLDS 2015 đã bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài sản gây thiệt hại”. Cụ thể, theo Khoản 3 Điều 584 BLDS 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của mình gây ra. Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 584 cũng đã quy định thêm về những trường hợp loại trừ trách nhiệm BTTH nếu thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.
       2. Về nguyên tắc BTTH (Điều 585 BLDS 2015)
      Nguyên tắc BTTH là những tư tưởng chỉ đạo, mang tính định hướng cho các chủ thể phải tuân theo trong quá trình ban hành văn bản pháp luật và áp dụng pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng. So với nguyên tắc BTTH được quy định tại Điều 605 BLDS 2005, BLDS 2015 đã có một số thay đổi như sau:
     - Thứ nhất, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời: Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.  Việc quy định rõ loại thiệt hại được bồi thường phải là thiệt hại thực tế sẽ giúp cho các bên cũng như Tòa án dễ dàng hơn trong việc xác định thiệt hại để bồi thường.
     - Thứ hai, về đối tượng bồi thường thiệt hại: Việc thay đổi thuật ngữ “người gây thiệt hại” thành “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ” trong BLDS 2015 là chính xác và đầy đủ hơn. Bởi lẽ như trên đã đề cập, người chịu trách nhiệm BTTH không chỉ có người gây thiệt hại mà còn có thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản có tài sản gây ra thiệt hại hoặc có thể là chủ thể khác như cha, mẹ chịu trách nhiệm BTTH cho con chưa thành niên v.v...
      - Thứ ba, người chịu trách nhiệm BTTH có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện song song với nhau, sau đây:
      (i). Do không có lỗi hoặc có lỗi vô ý mà gây thiệt hại;
      (ii). Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
     - Thứ tư, nguyên tắc về trách nhiệm hạn chế thiệt hại:BLDS 2015 quy định tại Khoản 5 Điều 585: “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được  bồi thường nếu thiệt hại  xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”. Việc thừa nhận trách nhiệm phải hạn chế thiệt hại này của bên có quyền và lợi ích bị xâm phạm là hợp lý, bởi lẽ, nếu trong khả năng của mình, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm có thể hạn chế thiệt hại xảy ra cho chính mình nhưng họ không làm, thì về mặt lý họ sẽ không thể yêu cầu bồi thường phần thiệt hại đó.
      - Thứ năm, về năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân (Điều 586 BLDS 2015): Điều 586 BLDS 2015 bổ sung thêm nhóm người “có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”. Theo đó, khi “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” mà gây thiệt hại thì họ cũng sẽ được đối xử giống như trường hợp người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại. Quy định này nhằm đảm bảo công bằng cũng như bảo vệ tốt quyền lợi của bên bị thiệt hại.
      3. Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu BTTH (Điều 588 BLDS 2015)
      Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Theo quy định của Điều 588 BLDS 2015: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu Bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.” Như vậy, thời hiệu khởi kiện yêu cầu BTTH ở BLDS 2015 được kéo dài hơn 01 năm so với BLDS 2005, và thời điểm được dùng để tính thời hiệu này sẽ được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Có thể thấy, mốc thời gian để tính thời hiệu khởi kiện được xác định “biết hoặc phải biết” hợp lý hơn cũng như bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho bên bị thiệt hại so với quy định của BLDS 2005.
      Bài viết trên chỉ có giá trị tham khảo, nếu có bất kỳ vướng mắc nào, xin hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp
      Với độ ngũ luật sư giàu kinh nghiệm và nhiệt tình trong công việc, có trách nhiệm với khách hàng, Luật Đại An Phát chuyên cung cấp các dịch vụ tham gia tranh tụng để giải quyết các vụ án như: Giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình, tranh chấp về thừa kế, tranh chấp đất đai, tranh chấp tài sản sau ly hôn....
Gửi yêu cầu dịch vụ
Đăng ký dịch vụ ngay