Blue ocean

Gửi câu hỏi trực tuyến

Họ tên
Điện thoại
Email
Câu hỏi

Quyền thành lập và quản lý, Quyền góp vốn hoặc mua cổ phần theo quy định của pháp luật

04/05/2020 20:22

Quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, Quyền góp vốn hoặc mua cổ phần là quyền được luật hóa từ quyền tự do kinh doanh của con người được ghi nhận tại Hiến pháp 2013. Tuy nhiên, không phải tổ chức cá nhân nào cũng có quyền thành lập, góp vốn và quản lý doanh nghiệp. Pháp luật Doanh nghiệp 2014 có những quy định hạn chế đối với một số đối tượng. Cụ thể:

                                                     

 
I. Quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp
Nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 là trừ các đối tượng mà luật doanh nghiệp 2014 quy định
không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp hoặc không được phép góp vốn hoặc mua cổ phần doanh nghiệp thì mọi tổ chức hoặc cá nhân Việt Nam và nước ngoài còn lại đều có các quyền trên.
Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định các đối tượng sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
Nhóm 1: Đối tượng làm việc tại cơ quan nhà nước
- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể là không được thành lập, quản lý, điều hành DNTN, Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. (Khoản 2 Điều 20 Luật phòng chống tham nhũng 2018)
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
Nhóm 2: Đối tượng có năng lực hành vi dân sự bị hạn chế
- Người chưa thành niên.
- Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;
Nhóm 3: Đối tượng đang gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.
Nhóm 4: Tổ chức không có tư cách pháp nhân.
Tổ chức Việt Nam và nước ngoài không có tư cách pháp nhân không được phép thành lập và quản lý doah nghiệp. Có nghĩa là, các tổ chức thành lập tại Việt Nam nhưng không có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam như DNTN, hộ kinh doanh, hợp tác xã, quỹ đầu tư chứng khoán và quỹ đầu tư bất động sản và các tổ chức được thành lập tại nước ngoài và không có tư cách pháp nhân (ví dụ như một số quỹ đầu tư nước ngoài). Tuy nhiên, các tổ chức này ( trừ doanh nghiệp tư nhân) lại có thể góp vốn hoặc mua cổ phần tại các doanh nghiệp đang tồn tại.
Trong trường hợp tổ chức nước ngoài mong muốn thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam thì theo quy định tại khoản 2 Điều 676 Bộ luật Dân sự 2015 tư cách pháp nhân của tổ chức nước ngoài được xác định trên cơ sở pháp luật của nước nơi thành lập tổ chức đó.
II. Quyền góp vốn hoặc mua cổ phần
Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép mọi tổ chức và cá nhân được quyền góp vốn và mua cổ phần trong doanh
nghiệp đang tồn tại ngoại trừ hai đối tượng:
  1. Cơ quan nhà nước hoặc đơn vị vũ trang sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cho cơ quan hoặc đơn vị mình;
  2. Cán bộ hoặc công chức nhà nước.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014 Doanh nghiệp tư nhân không được phép góp vốn hoặc mua cổ phần trong Công ty hợp danh, Công ty TNHH hoặc Công ty cổ phần.
Như vậy, đối tượng bị hạn chế góp vốn hoặc mua cổ phần ít hơn so với các đối tượng bị hạn chế thành lập và quản lý doanh nghiệp, đặc biệt tổ chức không có tư cách pháp nhân không bị cấm góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp đang tồn tại ( Ngoại trừ DNTN).
Vấn đề đặt ra là sau khi góp vốn hoặc mua cổ phần trong doanh nghiệp đang tồn tại, tổ chức đó cũng có thể tham gia vào quản lý Doanh nghiệp. Vậy hạn chế đối với tổ chức không có tư cách pháp nhân liên quan đến quyền quản lý doanh nghiệp có bị áp dụng hay không?. Pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ ràng về vấn đề này. Tuy nhiên, theo thông lệ thị trường, tổ chức không có tư cách pháp nhân vẫn có thể góp vốn hoặc mua cổ phần và sau đó tham gia quản lý Công ty vì hạn chế về quyền quản lý doanh nghiệp dường như chỉ áp dụng tại thời điểm thành lập doanh nghiệp.
Trên đây là một số ý kiến tư vấn của Công ty Chúng tôi và chỉ có giá trị tham khảo. Vì vậy, để đánh giá vấn đề pháp lý một cách toàn diện với từng hồ sơ vụ việc cụ thể , quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi:
CÔNG TY LUẬT HỢP DANH ĐẠI AN PHÁT
Địa chỉ: Phòng 12A – Chung cư viện Chiến lược Bộ Công An, đường Nguyễn Chánh, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Số điện thoại: 024.39.184.888/0973.509.636/0989.422.798
Email: luatdaianphat@gmail.com  
Trân trọng!
 

 
Gửi yêu cầu dịch vụ
Đăng ký dịch vụ ngay